Cách Gieo Quẻ Kinh Dịch Bằng Ba Đồng Xu

Trả lời nhanh

Để gieo quẻ Kinh Dịch bằng ba đồng xu, quy ước một mặt là 3 điểm và mặt kia là 2 điểm, rồi tung cả ba đồng sáu lần. Ghi từng kết quả từ hào dưới lên hào trên: tổng 6 là âm động, 7 là dương tĩnh, 8 là âm tĩnh, 9 là dương động. Sáu hào ban đầu tạo quẻ chủ; đổi hào 6 từ âm sang dương và hào 9 từ dương sang âm để lập quẻ biến. Khi đọc, xem lời quẻ chủ trước, tiếp đến lời các hào động và cuối cùng dùng quẻ biến để nhận chiều chuyển của tình thế theo trường phái đang theo.

Chuẩn bị câu hỏi và đồng xu

Dùng ba đồng xu giống nhau để dễ nhận hai mặt. Chọn trước mặt nào là 3 và mặt nào là 2 rồi giữ nguyên trong cả sáu lượt. Một quy ước phổ biến lấy mặt ngửa là 3, mặt sấp là 2; nếu dùng ngược vẫn lập được quẻ miễn không đổi giữa chừng và ghi rõ quy ước.

Câu hỏi nên nói một việc, một chủ thể và một khoảng thời gian hợp lý. “Tình hình hợp tác dự án này trong ba tháng tới nên tiến thế nào?” rõ hơn “Tương lai của tôi ra sao?”. Không cần viết câu hỏi để ép quẻ trả lời có–không; Kinh Dịch thường chỉ thời thế, điểm cần sửa và cách ứng xử.

Bốn kết quả 6, 7, 8 và 9

Ba đồng xu tạo bốn tổng:

Tên “lão” chỉ trạng thái đã tới chỗ chuyển sang cực kia; “thiếu” chỉ trạng thái đang ổn định trong quẻ này. Khi tra quẻ chủ, 6 vẫn được nhìn là âm và 9 vẫn là dương. Chỉ khi lập quẻ biến mới đổi 6 thành dương, 9 thành âm.

Gieo sáu hào đúng thứ tự

Tung lượt đầu và ghi ở dưới cùng: đó là sơ hào. Lượt thứ hai đặt trên hào đầu, tiếp tục cho đến lượt sáu là thượng hào. Lỗi phổ biến nhất là ghi lượt đầu ở trên rồi nhận nhầm toàn bộ quẻ. Có thể dùng sáu dòng đánh số 1–6 từ dưới lên trước khi gieo.

Sau sáu lượt, ba hào dưới tạo nội quái, ba hào trên tạo ngoại quái. Đối chiếu tám quái Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài, rồi tra bảng 64 quẻ để lấy tên và số quẻ. Đừng đổi hào động trước khi xác định quẻ chủ.

Lập quẻ biến

Sao chép hình quẻ chủ sang cột thứ hai. Với mỗi hào 6, đổi nét đứt thành liền; với mỗi hào 9, đổi nét liền thành đứt. Hào 7 và 8 giữ nguyên. Hình mới là quẻ biến. Nếu không có 6 hoặc 9, quẻ không có hào động và chỉ có quẻ chủ theo phép cơ bản.

Ví dụ sáu lượt từ dưới lên là 7, 8, 8, 9, 7, 6. Quẻ chủ dùng đúng trạng thái dương–âm–âm–dương–dương–âm. Ở quẻ biến, hào 4 là 9 đổi sang âm và hào 6 là 6 đổi sang dương; các hào khác giữ nguyên. Cần tra cả hai quẻ sau khi dựng hình, không đoán tên từ ký ức.

Đọc quẻ có một hoặc nhiều hào động

Với một hào động, lời hào đó thường là trọng tâm cụ thể trong bối cảnh lời quẻ. Khi có nhiều hào động, các truyền thống có quy tắc chọn và đặt trọng số khác nhau. Có hệ đọc tất cả theo thứ tự, có hệ lấy một hào chủ, có hệ dùng quẻ biến làm lớp chính khi số hào động nhiều. Không nên tuyên bố một công thức duy nhất cho mọi sách Dịch.

Phương án nhập môn an toàn là đọc lời quẻ chủ, đại tượng, tất cả lời hào động từ dưới lên, rồi đọc lời quẻ biến như chiều chuyển. Ghi lại chỗ các lời hào cùng hướng hoặc mâu thuẫn; mâu thuẫn thường chỉ các giai đoạn hoặc vị trí khác nhau, không nhất thiết quẻ “sai”.

Phép đồng xu khác cỏ thi thế nào?

Phép ba đồng xu cho xác suất 6 và 9 bằng nhau. Phép cỏ thi truyền thống tạo phân bố khác, trong đó xác suất lão âm và lão dương không cân bằng như đồng xu. Vì vậy hai phép có thể cho tần suất hào động khác nhau dù cùng dùng bốn loại hào.

Sự khác biệt không làm phép đồng xu mất giá trị trong thực hành. Quan trọng là không gọi nó hoàn toàn đồng nhất về xác suất với cỏ thi. Khi ghi hồ sơ quẻ, nên lưu ngày giờ, câu hỏi, phương pháp, sáu tổng và bản dịch sử dụng để lần sau kiểm tra được.

Những lỗi cần tránh

Tóm tắt

Phép ba đồng xu lập một quẻ bằng sáu lượt từ dưới lên. 7 là dương tĩnh, 8 là âm tĩnh, 6 là âm động và 9 là dương động. Quẻ chủ giữ hình ban đầu; quẻ biến đổi riêng các hào động. Câu trả lời nằm trong quan hệ giữa thời thế của quẻ chủ, vị trí hào chuyển và chiều mở ra ở quẻ biến.

Nguồn tham khảo