Không Vong Trong Bát Tự Là Gì? Bảng Lục Giáp Tuần Không
Trả lời nhanh
Không Vong hay Tuần Không là hai Địa Chi còn thiếu trong một tuần gồm mười tổ hợp Can Chi. Chẳng hạn, tuần Giáp Tý đi từ Giáp Tý đến Quý Dậu nên Tuất và Hợi là hai chi Không Vong. Khi luận Bát Tự, thường lấy tuần chứa trụ ngày để tra cặp chi này rồi đối chiếu với các trụ năm, tháng, giờ và vận. Chi gặp Không có thể biểu hiện sự chậm kết, khó thành thực hoặc chuyển dạng, nhưng không mất hẳn tác dụng; còn phải xét vượng suy, Dụng–Kỵ, hợp, xung và điền thực.
Không Vong trong Bát Tự là gì?
Hệ Can Chi có mười Thiên Can và mười hai Địa Chi. Khi ghép tuần tự, một nhóm mười ngày dùng đủ mười can nhưng chỉ đi qua mười chi, còn dư hai chi. Hai chi chưa ghép trong nhóm ấy được gọi Tuần Không, Lục Giáp Không Vong, Không Vong hoặc Thiên Trung Sát trong một số văn bản.
Sáu mươi Giáp Tý được chia thành sáu tuần, mỗi tuần bắt đầu bằng một ngày can Giáp: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Mỗi tuần có một cặp Không Vong riêng. Đây là quan hệ toán lịch giữa 10 can và 12 chi trước khi được dùng làm dấu hiệu huyền học.
Trong Tử Bình, phép thông dụng lấy trụ ngày làm chủ để xác định Tuần Không của toàn lá số. Một số cổ pháp còn xét Không Vong theo năm hoặc phân âm dương trong cùng cặp; khi dùng dị pháp cần ghi rõ, không thay bảng giữa chừng.
Bảng sáu tuần Giáp và hai chi Không Vong
| Tuần bắt đầu | Mười Can Chi trong tuần | Chi Không Vong |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Giáp Tý đến Quý Dậu | Tuất, Hợi |
| Giáp Tuất | Giáp Tuất đến Quý Mùi | Thân, Dậu |
| Giáp Thân | Giáp Thân đến Quý Tỵ | Ngọ, Mùi |
| Giáp Ngọ | Giáp Ngọ đến Quý Mão | Thìn, Tỵ |
| Giáp Thìn | Giáp Thìn đến Quý Sửu | Dần, Mão |
| Giáp Dần | Giáp Dần đến Quý Hợi | Tý, Sửu |
Câu quyết dễ nhớ của *Uyên Hải Tử Bình* là: “Giáp Tý tuần trung vô Tuất Hợi; Giáp Tuất tuần trung vô Thân Dậu; Giáp Thân tuần trung vô Ngọ Mùi; Giáp Ngọ tuần trung vô Thìn Tỵ; Giáp Thìn tuần trung vô Dần Mão; Giáp Dần tuần trung vô Tý Sửu.”
“Vô” nghĩa là không có hai chi ấy trong mười tổ hợp của tuần, không phải hai chi biến mất khỏi lịch. Khi sang tuần kế tiếp, chúng lại xuất hiện trong các Can Chi mới.
Cách tính Không Vong từ trụ ngày
Xác định trụ ngày thuộc tuần nào
Lấy Can Chi ngày sinh và tìm Giáp đứng đầu tuần. Ví dụ ngày Bính Dần thuộc tuần Giáp Tý: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần. Vì vậy Tuất và Hợi là Không Vong. Ngày Tân Hợi thuộc tuần Giáp Thìn: Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi; cặp Không là Dần, Mão.
Có thể tính bằng số thứ tự lục thập hoa giáp hoặc tra bảng. Điều kiện đầu tiên là trụ ngày đúng. Người sinh gần 23 giờ có thể đổi ngày tùy quy tắc Tý sơ hay nửa đêm và múi giờ; sai ngày kéo theo sai cả Không Vong.
Tìm hai chi Không trong bốn trụ
Sau khi có cặp Không Vong, kiểm tra chi năm, tháng, ngày và giờ. Chi ngày của chính trụ chủ không nằm trong cặp thiếu của tuần đó, nên Không Vong theo ngày thường xuất hiện tại chi năm, tháng hoặc giờ. Phần mềm vẫn có thể ghi dấu theo nhiều lớp khác, cần xem nó đang lấy tuần nào.
Ví dụ trụ ngày Bính Dần có Tuất–Hợi Không. Nếu trụ giờ là Tân Hợi, chi giờ phạm Tuần Không. Điều này chưa đủ kết luận con cái, hậu vận hoặc mọi ý nghĩa của giờ “không có”; phải xem Hợi có vượng theo mùa, được sinh, hợp hay xung và tàng can làm gì trong cấu trúc.
Không Vong mang ý nghĩa gì?
Chữ Không chỉ trống, chưa thực hoặc khó nắm; Vong chỉ mất dấu, ẩn hoặc không ở đúng hình thái mong đợi. Trong phép luận, một cung hoặc Thập Thần gặp Không Vong có thể biểu hiện chậm, hư danh, thay đổi, xa cách, có mà khó dùng hoặc thành việc theo cách khác dự kiến.
Không Vong không đồng nghĩa hoàn toàn không tồn tại. Một chi vẫn có ngũ hành, tàng can, quan hệ mùa và hợp–xung. Dấu Không đặt thêm điều kiện rằng khí ấy khó kết thực hoặc cần yếu tố khác đánh thức. Cổ thư vì thế còn phân Không gặp sinh vượng, Không gặp quý thần, Không của hung sát và Không của cát thần.
Nếu Kỵ Thần hoặc sát khí vào Không, sức phá có thể giảm; nếu Dụng Thần, Tài, Quan cần dùng vào Không mà không được cứu, khả năng phát huy có thể chậm. Vì vậy bản thân Không Vong không có nhãn hung tuyệt đối.
Không Vong tại từng trụ được đọc ra sao?
Chi năm gặp Không Vong
Trụ năm liên hệ gốc họ, môi trường đầu đời, người trên và phạm vi xã hội xa. Không tại năm có thể biểu thị duyên với quê tổ mỏng, sự kế thừa không trọn hoặc sớm rời môi trường ban đầu. Nhưng nếu năm trụ đang làm Dụng, có sinh vượng và quý khí, kết luận có thể chuyển thành lập nghiệp xa hoặc nhận giá trị tinh thần thay vật chất.
Chi tháng gặp Không Vong
Trụ tháng nắm nguyệt lệnh, cha mẹ, anh em và môi trường nghề nghiệp theo nhiều dòng. Không tại tháng được chú ý vì chạm khí mùa và cách cục. Tuy nhiên nguyệt lệnh không mất ngũ hành chỉ vì bị đánh dấu Không; sức mùa vẫn là dữ kiện nền. Cần phân biệt “cung tháng gặp Không” với “nguyệt khí không còn”.
Chi giờ gặp Không Vong
Trụ giờ thường liên hệ con cái, học trò, thành quả về sau và ý hướng tương lai. Không tại giờ có thể làm kế hoạch muộn, duyên hậu thế khác kỳ vọng hoặc kết quả chuyển sang lĩnh vực phi vật chất. Muốn nói về con phải xem cả Thực Thương, cung giờ, hợp–xung và vận, không dùng một dấu Không.
Khi nào Không Vong được điền thực hoặc giải?
Gặp chi đúng vào vận, năm
Khi Đại Vận hoặc lưu niên đưa chính chi đang Không đến, nhiều dòng gọi là điền thực: phần trống có thời điểm được lấp, chủ đề trở nên hữu hình. Nhưng nếu chi đến đồng thời là Kỵ hoặc gây xung cục, “thực” có thể làm vấn đề phát ra chứ không mặc nhiên thành tốt.
Gặp xung
Có câu “Không phùng xung tắc thực”, nghĩa chi đối xung có thể làm phần Không động và hiện. Dòng khác cho rằng xung làm khí càng tán nếu bản thân đã suy. Hai cách không nhất thiết mâu thuẫn: xung có thể khiến việc phát sinh nhưng chất lượng phụ thuộc vượng suy và Dụng–Kỵ.
Gặp hợp
Lục hợp hoặc tam hợp có thể kéo chi Không vào cục, khiến nó có liên hệ và bớt cô. Nhưng hợp cũng có thể trói hoặc hóa mất chức năng ban đầu. Không nên thấy hợp là tuyên bố “giải hết Không Vong”; phải xét hợp có thành hóa, ai sinh ai và hành mới có được dùng không.
Đắc lệnh, sinh vượng và có căn
Chi Không nhưng đúng mùa, được nhiều can chi sinh và có khí thế không giống chi Không suy tuyệt. Cổ thư nói Không Vong gặp sinh vượng hoặc quý thần có thể chuyển cách biểu hiện. Đây là lý do toàn cục mạnh hơn một thần sát riêng.
“Chân Không”, “bán Không” và âm dương phân Không
Một số thiên của *Tam Mệnh Thông Hội* chia cặp Không theo ngày dương và ngày âm trong tuần, coi một chi ứng mạnh hơn chi kia, đồng thời phân mức chân Không và nhẹ hơn dựa Can Chi cụ thể. Đây là lớp cổ pháp chi tiết, không phải mọi dòng Tử Bình hiện nay đều dùng.
Khi phần mềm chỉ hiển thị cặp Tuất–Hợi, nó đang dùng bảng Tuần Không phổ thông. Không nên tự thêm kết luận chân Không nếu chưa tính can ngày và quy tắc của văn bản. Ngược lại, người theo phép âm dương phân Không cần công bố cách an để người đọc tái kiểm tra.
Ngoài ra còn thuật ngữ Tứ Đại Không Vong, liên quan các tuần thiếu một hành theo nạp âm trong cổ thư. Nó khác với cặp hai chi Tuần Không thông dụng. Hai khái niệm không được nhập làm một.
Không Vong khác Tuần, Triệt trong Tử Vi thế nào?
Tử Vi Đẩu Số có Tuần Trung Không Vong và Triệt Lộ Không Vong án trên cặp cung của lá số. Bát Tự dùng cặp Địa Chi thiếu trong tuần của Can Chi ngày hoặc năm. Cùng có chữ Không Vong nhưng vị trí và cách tác động khác nhau.
Không thể lấy Tuần đang án cung Mệnh Tử Vi để nói Nhật Chi Bát Tự bị Không, cũng không dùng cặp Không của ngày Bát Tự đặt trực tiếp lên cung Tử Vi. Mỗi môn phải lập theo quy tắc riêng.
Những lỗi thường gặp
Lỗi phổ biến nhất là thấy Tài tinh Không rồi nói cả đời không tiền, Phu Thê Không rồi nói không kết hôn, giờ Không rồi nói không con. Những kết luận ấy bỏ qua sinh vượng, nhiều điểm đại diện cho cùng chủ đề và khả năng điền thực qua vận.
Lỗi thứ hai là tra Không theo con giáp năm sinh thay vì tuần chứa trụ ngày, hoặc dùng trụ ngày sai do không xử lý múi giờ và ranh ngày. Lỗi thứ ba là coi xung/hợp luôn giải Không theo một câu quyết mà không xét kết quả của xung/hợp.
Không Vong là một lớp thông tin. Phép Tử Bình lấy Nhật Chủ, nguyệt lệnh, cách cục, Dụng Thần và sinh khắc làm trục; thần sát chỉ hỗ trợ diễn nghĩa.
Tóm tắt
Không Vong phát sinh vì mỗi tuần mười Can Chi còn thiếu hai trong mười hai Địa Chi. Sáu cặp lần lượt là Tuất–Hợi, Thân–Dậu, Ngọ–Mùi, Thìn–Tỵ, Dần–Mão, Tý–Sửu. Bát Tự thường lấy tuần của trụ ngày để tra. Chi gặp Không có xu hướng hư, chậm hoặc đổi dạng, nhưng không bị xóa; vượng suy, Dụng–Kỵ, hợp, xung và vận điền thực mới cho kết luận đầy đủ.
Nguồn tham khảo
- *Uyên Hải Tử Bình* – Luận Lục Giáp Không Vong
- *Tam Mệnh Thông Hội* – Luận Không Vong
- Bản *Uyên Hải Tử Bình*, quyển một
- Thư viện Quốc gia Trung Quốc – *Mệnh Lý Tập Thành*