Lễ Gia Quan Trong Lễ Hội Đình Làng Là Gì?
Trả lời nhanh
Lễ gia quan trong lễ hội đình làng là nghi thức mặc áo, đội mũ hoặc sửa sang phục sức cho tượng thần, thần vị hay đối tượng thờ phụng sau lễ mộc dục ở một số truyền thống. Đây là nghĩa gia quan thuộc mạch tế lễ, khác với lễ gia quan đánh dấu một nam nhân trưởng thành trong Nho lễ. Nghi thức chỉ thực hiện khi đình, đền còn giữ lệ riêng; trang phục, người phụ trách và thứ tự hành lễ phải theo bản nghi tại chỗ, không có mẫu chung để tự làm tại nhà.
Gia quan trong hội làng nghĩa là gì?
“Gia quan” theo nghĩa thông thường có thể chỉ việc đội mũ, thêm mũ áo. Trong tư liệu về phong tục và lễ hội, từ này xuất hiện ở ít nhất hai bối cảnh. Một là lễ đội mũ đánh dấu tuổi trưởng thành của nam giới trong Nho lễ. Hai là nghi thức trong hội làng, sau khi làm lễ mộc dục hoặc tắm rửa thần vị, tượng thờ, người phụ trách mặc lại y phục và đội mũ cho đối tượng thờ.
Bài này nói về nghĩa thứ hai. Tư liệu *Việt Nam phong tục* mô tả mạch lễ gồm mộc dục rồi gia quan trong đám hội; tư liệu về miền Nam cũng ghi việc chuẩn bị người khiêng kiệu và lễ gia quan trong chuỗi nghi thức làng. Do đó, cần đọc tên lễ trong đúng bối cảnh để tránh nhầm với nghi thức trưởng thành của một cá nhân.
Lễ gia quan nằm ở đâu trong mạch lễ hội?
Ở những nơi còn thực hành, gia quan thường gắn với lễ mộc dục. Sau khi tượng, thần vị hoặc các vật thờ được chăm sóc theo lệ, nghi thức gia quan làm phần phục sức được hoàn chỉnh trước khi chuyển sang rước, tế hoặc các phần lễ tiếp theo. Tại lễ hội Xa Mã đình Hoàng Châu, tư liệu Di sản văn hóa nhắc việc mộc dục tượng Mẫu, bao sái kiệu và ngai thờ, sau đó gia quan – mặc áo cho tượng Đức Thánh Mẫu.
Tuy thế, không phải mọi đình đều có tượng thờ để gia quan, không phải kỳ lễ nào cũng làm đầy đủ các bước, và cũng không phải nơi nào dùng cùng tên gọi. Có đình chỉ làm mộc dục, có nơi dùng tên “thay áo”, “mặc áo”, hoặc ghi thành phần này trong bản nghi mà không gọi riêng là gia quan.
Lễ gia quan thường gồm những việc gì?
Nội dung cụ thể phụ thuộc vào đối tượng thờ và quy định của di tích. Về mặt cấu trúc, có thể nhận diện các lớp việc sau:
- Chuẩn bị sau mộc dục: người có trách nhiệm chuẩn bị áo, mũ hoặc phục sức đã dùng theo lệ.
- Gia quan: thực hiện việc mặc, đội hoặc hoàn chỉnh phục sức cho tượng, thần vị hay đối tượng thờ.
- Sửa soạn không gian thờ: hoàn chỉnh vị trí kiệu, ngai, khám hoặc hương án để tiếp lễ.
- Chuyển sang nghi thức tiếp theo: có thể là cáo yết, rước, tế hay phần hội theo lịch địa phương.
Không nên xem đây là hướng dẫn thao tác. Vật thờ, cổ vật, trang phục nghi lễ và thần vị có thể cần quy trình bảo quản riêng; chỉ người được ban quản lý, ban quý tế hoặc thủ từ phân công mới thực hiện.
Lễ gia quan trong hội làng khác lễ gia quan trưởng thành thế nào?
| Cách dùng | Đối tượng | Ý nghĩa chính |
|---|---|---|
| Gia quan trong hội làng | Tượng, thần vị hoặc đối tượng thờ | Hoàn chỉnh phục sức trong mạch tế lễ |
| Gia quan theo Nho lễ | Nam nhân đến tuổi trưởng thành | Đánh dấu việc thành nhân bằng lễ đội mũ |
Tên gọi giống nhau vì cùng liên quan tới mũ áo, nhưng không thể dùng nội dung của lễ trưởng thành để giải thích nghi thức thờ tự, hoặc ngược lại. Khi tìm tài liệu, cần thêm từ khóa “đình làng”, “mộc dục” hoặc “lễ hội” để xác định đúng chủ đề.
Vì sao không có “bài khấn gia quan” dùng chung?
Trong lễ hội đình làng, lời xướng hay chúc văn nếu có là bộ phận của bản nghi gắn với thần tích, đối tượng thờ, chức sắc và lệ của chính di tích. Bài viết không tạo mẫu lời khấn hoặc hiện đại hóa câu xướng để tránh đưa một nghi thức thuộc nơi này sang nơi khác.
Người muốn tìm hiểu sâu nên tra hồ sơ di tích, ấn phẩm địa phương hoặc hỏi ban quản lý và người giữ lệ. Với người đi lễ, thái độ đúng là quan sát trang nghiêm và tuân theo hướng dẫn, không tự ý chạm vào tượng, kiệu, phục sức hay khu vực đang làm lễ.
Tóm tắt
Lễ gia quan trong hội làng là nghi thức mặc áo, đội mũ hoặc hoàn chỉnh phục sức cho đối tượng thờ sau mộc dục trong một số truyền thống. Nó khác hẳn lễ gia quan đánh dấu tuổi trưởng thành. Vì đây là nghi thức phụ thuộc bản nghi, mọi chi tiết thực hành phải theo lệ của đình, đền hay lễ hội cụ thể.
Nguồn tham khảo
- Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục – tư liệu lễ hội làng
- Sơn Nam, Nói về miền Nam – tư liệu nghi lễ làng
- Cục Di sản văn hóa – Lễ hội Xa Mã, đình Hoàng Châu