Tàng Can Là Gì? Bảng Can Ẩn Trong 12 Địa Chi Bát Tự

Trả lời nhanh

Tàng can (藏干) là các Thiên Can được quy ước ẩn chứa bên trong mỗi Địa Chi của lá số Bát Tự. Một chi có từ một đến ba can ẩn, thường phân thành bản khí, trung khí và dư khí; chúng cho biết ngũ hành có gốc ở đâu, Thập thần nào nằm dưới bề mặt và khí nào có thể thấu ra khi gặp vận. Tàng can không phải “tính cách bí mật” tách rời lá số. Muốn luận phải xét tháng sinh, độ vượng, can nào lộ trên thiên can, quan hệ hợp–xung–hình–hại và toàn cục.

Vì sao Địa Chi lại chứa Thiên Can?

Trong bốn trụ, mỗi trụ có một Thiên Can ở trên và một Địa Chi ở dưới. Can biểu hiện khí rõ, còn Chi là khí theo mùa, phương và trạng thái phức hợp. Địa Chi không chỉ mang một hành đơn; nhiều chi chứa dấu của hai hoặc ba hành qua hệ tàng can.

Ví dụ Dần thuộc Mộc nhưng bên trong tàng Giáp Mộc, Bính Hỏa và Mậu Thổ. Điều này thể hiện tiến trình khí đầu xuân: Mộc làm chủ, Hỏa bắt đầu sinh và Thổ còn lưu. Khi đọc Dần chỉ như “Mộc” rồi bỏ hai can còn lại, người luận mất phần gốc của Thập thần và khả năng khí biến đổi.

Tàng can còn giải thích vì sao một Thiên Can không xuất hiện trên hàng trên nhưng vẫn có gốc trong lá số. Nếu can ấy được tàng ở chi đắc mùa, nó không phải hoàn toàn vô lực. Ngược lại, can thấu mà dưới đất không có căn thường dễ nổi mà thiếu sức bền.

Bảng tàng can của 12 Địa Chi

Địa ChiTàng canKhí chính đứng trước
QuýQuý Thủy
SửuKỷ, Quý, TânKỷ Thổ
DầnGiáp, Bính, MậuGiáp Mộc
MãoẤtẤt Mộc
ThìnMậu, Ất, QuýMậu Thổ
TỵBính, Mậu, CanhBính Hỏa
NgọĐinh, KỷĐinh Hỏa
MùiKỷ, Đinh, ẤtKỷ Thổ
ThânCanh, Nhâm, MậuCanh Kim
DậuTânTân Kim
TuấtMậu, Tân, ĐinhMậu Thổ
HợiNhâm, GiápNhâm Thủy

Thứ tự trên trình bày can chủ trước, các khí phụ sau. Tên gọi bản khí, trung khí, dư khí và tỷ lệ phần trăm có thể khác theo giáo trình. Không nên lấy một bảng tỷ lệ hiện đại làm con số tuyệt đối cho mọi trường phái; cường độ thực vẫn đổi theo tiết khí và toàn cục.

Bản khí, trung khí và dư khí

Bản khí là can đại diện mạnh nhất cho bản chất của Địa Chi. Dần lấy Giáp, Tỵ lấy Bính, Thân lấy Canh, Hợi lấy Nhâm. Bốn chi Tý, Mão, Dậu chỉ tàng một can thuần; Ngọ tàng thêm Kỷ nên vẫn có lớp phụ.

Trung khídư khí là những can phụ còn hiện diện trong chi. Chúng không nhất thiết yếu trong mọi hoàn cảnh. Khi gặp mùa, tam hợp, tam hội hoặc can tương ứng thấu lên, một khí phụ có thể được dẫn mạnh. Chẳng hạn Ất trong Mùi gặp Hợi–Mão thành Mộc cục sẽ khác với Ất trong Mùi đứng đơn vào mùa Kim.

Bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được gọi là tứ khố hay bốn mộ khố, tàng nhiều khí chuyển mùa. Thìn có Mậu, Ất, Quý; Tuất có Mậu, Tân, Đinh; Sửu có Kỷ, Quý, Tân; Mùi có Kỷ, Đinh, Ất. Vì vậy cùng thuộc Thổ nhưng nội dung bên trong khác nhau.

“Thấu can” và “có gốc” là gì?

Một tàng can thấu khi Thiên Can cùng loại xuất hiện ở hàng trên của lá số hoặc đến qua đại vận, lưu niên. Khí vốn nằm trong Chi có đường biểu hiện rõ hơn. Ví dụ Dần tàng Bính, gặp Bính thấu trên can thì Hỏa có nguồn dưới Dần; mức mạnh còn xét Dần có bị xung phá và có được mùa không.

Thiên Can có gốc khi tìm được can cùng hành hoặc chính khí tương ứng trong Địa Chi. Giáp gặp Dần, Mão là căn Mộc rõ; gặp Hợi hay Thìn có lớp Mộc nhưng cách lấy căn cần xét hệ đang dùng. Có gốc không đồng nghĩa tự động vượng: gốc xa, bị xung hoặc trái mùa có lực khác gốc sát và đắc lệnh.

Tàng mà không thấu vẫn có tác dụng như khí dự trữ, quan hệ tiềm ẩn hoặc nền cho sinh khắc trong chi. Không nên xóa khỏi lá số, cũng không nên đọc nó ngang sức với can thấu.

Tàng can tạo Thập thần thế nào?

Mỗi tàng can được đối chiếu với Nhật chủ để gán một Thập thần. Nếu Nhật chủ Giáp Mộc và chi ngày khác là Dần, Dần tàng Giáp, Bính, Mậu lần lượt thành Tỷ Kiên, Thực Thần và Thiên Tài theo quan hệ ngũ hành, âm dương.

Nhờ vậy một Địa Chi có thể mang nhiều vai trò cùng lúc. Chi tháng không chỉ là một hành mà chứa các Thập thần ảnh hưởng cách lập cách cục. Chi ngày là cung phối ngẫu nhưng tàng can bên trong còn chỉ quan hệ ngũ hành với Nhật chủ. Chi giờ có thể chứa tài, quan, ấn hay thực thương dù mặt can không lộ.

Không được gán ý nghĩa người thân cơ học cho mọi tàng can. Một Thập thần chỉ phát huy theo sức mạnh, vị trí, cách cục và việc có được dẫn ra hay không. Nhiều can ẩn cũng không đồng nghĩa nhiều người hay nhiều sự kiện cụ thể.

Tàng can thay đổi khi hợp, xung và hội cục

Địa Chi gặp hợp, xung, hình, hại sẽ đổi quan hệ nhưng tàng can không biến mất theo kiểu xóa chữ. Khi đủ điều kiện hợp hóa hoặc hội thành cục, trọng tâm ngũ hành có thể chuyển; vẫn phải theo dõi can nào được sinh, can nào bị chế và khí nào thấu.

Xung giữa hai khố như Thìn–Tuất thường được diễn giải có khả năng làm khí tàng vận động, nhưng không thể mặc định “xung khố là mở kho” rồi luôn luận được tài. Phải xem trong kho chứa gì đối với Nhật chủ, khí ấy có dùng được và xung làm lộ hay làm tổn.

Đại vận đưa một chi mới đến có thể tạo tam hợp, tam hội hoặc xung vào chi gốc, khiến tàng can vốn yên được kích hoạt. Đây là lý do tàng can quan trọng trong luận thời vận, nhưng kết quả không chỉ dựa một can ẩn.

Sai lầm thường gặp

Tóm tắt

Tàng can là lớp Thiên Can nằm trong 12 Địa Chi, cho biết căn khí, ngũ hành và Thập thần dưới bề mặt lá số. Bảng tàng can là dữ liệu nền, chưa phải lời đoán. Muốn dùng đúng phải xét bản khí–khí phụ, nguyệt lệnh, thấu can, có gốc, hợp xung và toàn bộ cách cục; tỷ lệ chỉ mang ý nghĩa trong pháp môn đã xác định.

Nguồn tham khảo