Nghi Trượng Trong Lễ Rước Là Gì? Thành Phần Và Ý Nghĩa
Trả lời nhanh
Nghi trượng trong lễ rước là hệ thống đồ dùng, biểu tượng và người mang theo để tạo đội hình trang nghiêm cho một cuộc rước tế, rước thần hay rước kiệu. Tùy lệ làng và quy mô buổi lễ, nghi trượng có thể gồm cờ, quạt, tàn, tán, lọng, biển đề, bát bửu, khí giới nghi lễ, nhạc bát âm và kiệu. Đây không chỉ là vật trang trí: thứ tự của từng phần nói lên tính tôn nghiêm, đối tượng được cung nghinh và nề nếp nghi lễ riêng của cộng đồng.
Nghi trượng là gì trong lễ hội truyền thống?
Trong cấu trúc một lễ hội, nghi trượng là phần vật thể và đội ngũ phục vụ cho nghi lễ. Nghi trượng đặc biệt dễ thấy ở đám rước vì các vật được sắp thành hàng, di chuyển theo nhịp trống chiêng và dẫn đường cho kiệu, bài vị hoặc sắc phong. Một số tài liệu nghiên cứu về lễ hội người Việt xem đám rước là thời điểm nối không gian thờ tự với không gian cộng đồng; nghi trượng chính là lớp tạo nên dáng vẻ uy nghi của cuộc chuyển dịch ấy.
Nghi trượng không có một danh mục bất biến cho mọi nơi. Đình, đền, phủ, chùa và từng vùng có thể giữ cách gọi, số lượng đồ thờ, màu cờ hoặc thứ tự riêng. Vì thế, nếu dự định tham gia phục dựng hay sắp xếp lễ rước, lệ làng và sự hướng dẫn của ban nghi lễ địa phương là căn cứ trước hết.
Những thành phần thường gặp
Cờ ngũ sắc, cờ thần hoặc cờ hội thường mở đầu hay tạo các lớp báo hiệu cho đoàn rước. Tàn, tán và lọng là những vật che mang ý nghĩa tôn nghiêm; trong nhiều đội hình chúng đi gần khu vực kiệu hoặc vị trí được tôn kính. Biển đề, lệnh bài, bát bửu và các khí cụ nghi lễ làm rõ thân phận, công tích hoặc uy nghi của đối tượng được rước.
Kiệu, long đình hay ngai là phương tiện rước thần vị, bài vị, sắc phong hoặc vật thờ theo tập quán từng nơi. Phường bát âm, trống, chiêng và người chấp sự không phải lúc nào cũng được gọi chung là đồ nghi trượng, nhưng là bộ phận gắn chặt với nhịp điệu và trật tự cuộc rước. Bài chấp kích trong nghi lễ rước tế giải thích thêm về một vai trò cụ thể trong đoàn rước.
Đội hình nghi trượng được sắp xếp thế nào?
Đội hình thường có phần mở đường, phần cờ quạt – nghi trượng, phần nhạc lễ, kiệu hoặc vật rước, rồi đến các vị chức sắc và dân làng. Trình tự cụ thể không nên tự suy đoán theo mẫu của địa phương khác. Có nơi rước sắc từ miếu về đình, có nơi rước nước, rước kiệu Thành hoàng hoặc rước trong nghi lễ cưới, nên thành phần và vị trí có thể thay đổi.
Người cầm mỗi vật cần đi đúng hàng, đúng nhịp và giữ thái độ trang nghiêm. Việc đổi vị trí, thêm bớt khí cụ hay dùng trang phục không đúng lệ có thể làm lệch quy cách mà cộng đồng đang gìn giữ. Đây là lý do ban tổ chức thường phân công người chấp sự và tập dượt trước ngày hội.
Ý nghĩa của nghi trượng
Nghi trượng làm cho lễ rước có trật tự nhìn thấy được. Cờ, tán, lọng và kiệu cùng tạo nên không gian tôn kính, biểu hiện sự cung nghinh đối với thần linh, tổ tiên hay nhân vật được thờ phụng. Trong ký ức làng xã, bộ nghi trượng còn là tài sản chung, được bảo quản tại đình, đền hoặc nhà thờ họ và chỉ sử dụng trong dịp có lệ.
Vì vậy, giá trị của nghi trượng không nằm riêng ở độ mới hay số lượng đồ vật. Điều quan trọng là nó được đặt trong đúng nghi trình, phù hợp thần tích, tín ngưỡng và quy ước của nơi cử hành. Các bài về lễ thỉnh sắc thần và lễ gia quan giúp đặt nghi trượng vào từng bối cảnh nghi lễ.
Khi tìm hiểu hoặc tham dự lễ rước
Người tham dự nên tôn trọng lối đi của đoàn, không chen vào khoảng giữa các hàng nghi trượng hoặc kiệu, và làm theo hướng dẫn của ban tổ chức. Người nghiên cứu nên ghi rõ tên lễ hội, địa phương và nguồn tư liệu, bởi cùng một tên gọi có thể mang hình thức khác nhau qua các vùng.
Không có một “bộ nghi trượng chuẩn” để áp dụng đồng loạt. Tôn trọng lệ bản địa giúp việc tìm hiểu nghi lễ giữ được ý nghĩa nguyên vẹn hơn là sao chép một đội hình nhìn thấy ở nơi khác.
Tóm tắt
Nghi trượng là phần đồ lễ và đội hình tạo nên vẻ trang nghiêm của lễ rước. Cờ, tàn, tán, lọng, biển đề, bát bửu, nhạc lễ và kiệu có thể xuất hiện theo các cách khác nhau, nhưng đều cần được đặt trong nghi trình và tập quán của cộng đồng cử hành.
Nguồn tham khảo
- Lê Trung Vũ, *Lễ hội truyền thống người Việt*, dữ liệu iTriThuc.
- Tài liệu nghiên cứu về lễ hội truyền thống, Thư viện Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng.
- Toan Ánh, *Nếp cũ – Làng xóm Việt Nam*, bản số hóa thư viện.